"Người thầy tại chỗ" - người chính trị viên
- Thứ năm - 15/03/2018 20:12
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
1. Anh làm thay đổi cuộc đời tôi
Đầu tháng 5 năm 1973, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường Quảng Trị, đơn vị tôi (Trung đoàn 64, Sư
đoàn 320B) ra Tĩnh Gia - Thanh Hóa để củng cố, huấn luyện bổ sung và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.
Chừng hơn một tháng, sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, đơn vị được cấp trên thông báo sẽ có đoàn cán bộ và học viên của Học viện Chính trị về thực tập. Những sĩ quan trẻ, trợ lý cơ quan mỗi người suy nghĩ một kiểu. Có người cho rằng cán bộ, học viên của Học viện về công tác là cơ hội để cấp trên cho cán bộ đơn vị được đi phép "xả hơi" sau thời gian chiến đấu. Người thì lại nghĩ, với vài tháng ở đơn vị, liệu họ có giúp được gì? Học viên thực tập sẽ chỉ nặng về quan sát, học hỏi, ghi chép.....
Tuy nhiên, ngay trong ngày đầu tiên khi làm việc với đoàn cán bộ, học viên của Học viện, Chủ nhiệm Chính trị đã nhấn mạnh: Đoàn cán bộ, học viên của Học viện về đơn vị thực tập là dịp để học viên thực hành công việc của người chính trị viên tương lai, là để cán bộ, giáo viên trao đổi kinh nghiệm, nắm tình hình công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị chiến đấu để bổ sung cho bài giảng, trực tiếp giúp đơn vị tận dụng thời gian huấn luyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Do vậy, cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn cần phối hợp chặt chẽ với cán bộ, học viên của Học viện, coi các đồng chí như cán bộ của đơn vị để triển khai hoạt động theo kế hoạch chung, thống nhất...Phụ trách đoàn thực tập là Trung úy Phạm Gia Nguyên. Anh được bố trí sinh hoạt, ăn ở cùng với Ban Chính trị Trung đoàn. Buổi đầu anh Nguyên về phòng (gọi là "phòng" cho sang chứ thực chất chỉ là một gian nhà tranh tre, nứa lá mới dựng), anh đã nhanh chóng làm quen với chúng tôi. Phượng, Thắng là hai người được anh hỏi thăm trước, các cậu ta đều nhanh nhảu trả lời. Đến lượt tôi, anh hỏi:
- Đồng chí tên gì? Quê ở đâu? Bao nhiêu tuổi rồi? Đã có vợ con chưa?
Tôi trả lời:
- Em là Quang, quê Thái Bình, năm nay 26 tuổi, có vợ nhưng chưa có con!
Thấy tôi trả lời nhát gừng, anh chuyển sang hỏi về công việc chung của cơ quan và tình hình đơn vị. Buổi ra mắt làm quen quá nhanh, chúng tôi mỗi người một việc giúp anh kê giường nằm, kéo dây mắc màn, làm giá ba lô, giá bát, giá giày... Vừa làm, tôi vừa nhìn anh với ánh mắt "thăm dò", để ý từng hành động xem anh "Cán bộ Học viện" có gì đặc biệt.
Cuối giờ chiều, khi sân bóng chuyền đã có người tập, tôi dè dặt hỏi:
- Anh Nguyên có thích chơi bóng chuyền không?
- Có, nhưng mình chơi còn dở lắm! - Anh trả lời.
- Không sao! ở đây chúng em cũng mới tổ chức tập thôi, anh cùng chơi với chúng em nhé!
Thế là mấy anh em ra sân cùng nhau chơi vui vẻ. Hết giờ thể thao, anh cầm trên tay bộ quần áo đi lại có ý tìm nhà tắm ở đâu. Tôi lại gần anh, nói nhỏ:
- Đơn vị chưa làm được nhà tắm. Chúng em "tắm tiên" ở khe núi!
Anh bật cười rồi vui vẻ đi cùng tôi.
Hồi đó, sinh hoạt ban đêm chủ yếu sử dụng đèn măng-sông, còn cán bộ, trợ lý làm việc bằng đèn dầu. Sau khi ăn tối xong, cả Ban thường tranh thủ hội ý, triển khai công việc ngày hôm sau. Anh Nguyên chăm chú theo dõi và ghi chép đầy đủ. Cũng có hôm anh vắng mặt, hỏi ra mới biết anh báo cáo xuống đơn vị để cùng ra thao trường huấn luyện ban đêm và để kiểm tra học viên thực tập. Những hôm như thế anh thường về muộn, tôi mắc màn trước giúp anh. Khi anh về nhẹ nhàng lên giường ngủ, không ảnh hưởng đến người xung quanh. Vậy mà sáng ra, thấy hiệu lệnh báo thức là anh bật dậy ngay ra sân tập
thể dục.
Một lần, anh Nguyên đi với tôi xuống Tiểu đoàn 9. Đường khá xa. Vừa đi, anh vừa khéo léo gợi chuyện. Anh nói: "Năm nay, ngoài ba mươi tuổi nhưng do bận công việc nên chưa lập gia đình, bố anh mất sớm, mẹ anh ở Hà Nội đã nhiều lần giục anh lấy vợ để bà có cháu bế nhưng anh cứ lần lữa mãi...". Nét mặt anh thoáng buồn. Lúc đó anh chưa biết, bố tôi cũng là liệt sĩ chống Pháp, mẹ tôi đã già, hoàn cảnh tôi chỉ khác anh một chút là tôi đã có vợ. Anh hỏi tôi trước khi vào chiến trường có được học hành qua trường lớp nào không. Tôi nói:
- Em học Trường Quân sự Quân khu 3, sáu tháng. Học xong là nhận nhiệm vụ đi chiến đấu ngay anh ạ!
Suy nghĩ một lát, anh nói:
- Việc học là cần thiết lắm! Có học chúng ta mới hiểu nhiều điều, mới làm việc tốt được. Em cần cố gắng tranh thủ đọc báo, nghe đài, tìm hiểu kỹ hơn về công tác tổ chức, tuyên huấn, chính sách, cán bộ, bảo vệ, kiểm tra... Đó là các mặt công tác chủ yếu mà người cán bộ chính trị cần nắm vững.
- Nhưng mà khó lắm anh ạ! Vì ở đơn vị đâu có tài liệu để đọc, để nghiên cứu. Hơn nữa, chúng em lại rất bận! - Tôi chống chế.
- Được! Anh sẽ cho em mượn một số tài liệu để nghiên cứu. Chỗ nào chưa rõ hỏi anh, anh chỉ cho.
Cứ tưởng anh chỉ nói thế cho vui. Nào ngờ anh rất quan tâm đến nguyện vọng đọc sách của một chiến sĩ như tôi. Do công việc chỉ đạo, kiểm tra học viên thực tập rất bận nên hằng tuần anh em mới có dịp ngồi với nhau. Anh nói, ở đơn vị chiến đấu có nhiều kinh nghiệm hay, cần được ghi chép và phổ biến rộng rãi như: Vì sao người chiến sĩ đang hành tiến mà nghe tiếng nổ đề-pa là biết pháo địch bắn từ đâu tới, gần hay xa, là loại pháo gì? Vì sao máy bay B-52 bay ngay trên đầu mà quân ta vẫn bình tĩnh? Vì sao bộ đội vượt sông vào Thành Cổ Quảng Trị lại ít bị thương vong? Vì sao anh Kiều Ngọc Luân bị địch bao vây, vẫn cùng đồng đội bố trí được thế trận hợp lý, tổ chức chiến đấu lập công xuất sắc, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch và trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang...
Bây giờ ngồi ngẫm lại mới thấy ngày ấy anh còn trẻ nhưng đã có những suy nghĩ chín chắn, nhận xét sâu sắc, có tầm nhìn xa của một cán bộ, giảng viên giỏi.
Kết thúc đợt thực tập, anh tổng hợp tình hình, báo cáo xin ý kiến lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn. Đoàn thực tập đã được đơn vị đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Chỉ còn một đêm nữa anh ở cùng chúng tôi. Ngồi trong lán uống nước và hút thuốc cuộn, trong tôi bao suy nghĩ muốn hỏi anh. Từ lời nói, hành động gương mẫu của anh, đã lớn dần trong tôi một dự định, một ước mơ. Hồi lâu tôi mới đánh bạo lên tiếng:
- Anh Nguyên ơi! Liệu chúng em có đủ điều kiện để được về Học viện học tập không?
- Đủ quá đi chứ! Có điều mỗi khóa học, chỉ tiêu trên giao có phần hạn chế. Do vậy, các em phải cố gắng công tác, rèn luyện, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao để đơn vị tín nhiệm cử đi học - Anh trả lời.
Vâng lời anh, tôi và đồng đội ra sức phấn đấu. Tháng 8 năm 1974, tôi có hai niềm vui lớn. Một là, vợ tôi báo tin sinh con trai "mẹ tròn con vuông". Hai là, tôi được cử đi học tại Học viện Chính trị. Niềm vui khôn tả. Tôi có một ngày bàn giao công việc để gấp rút lên đường. Chia tay cơ quan, anh em tiễn tôi một đoạn đường khá xa, nhiều chỗ mấp mô khiến tôi vấp chúi về phía trước, lòng dạ bồn chồn bao suy nghĩ...
Tôi được về Đại đội 2, Tiểu đoàn 22 - nơi có nhiệm vụ đào tạo chính ủy, chính trị viên. Ngày đầu nhập học, rất nhiều việc cần làm: Nhận tài liệu, vũ khí, cuốc, xẻng, đất tăng gia, quét dọn nhà cửa, vệ sinh doanh trại... Phải mất mấy ngày sau, tôi mới có thời gian đi tìm anh Nguyên. Nghe tôi trình bày, chính trị viên đơn vị cười:
- Phạm Gia Nguyên phải không? Hiện anh ấy ở khu đào tạo cán bộ sơ cấp, bên kia cầu Đa Phúc, cách đây gần 5km. ở Học viện chúng mình quen gọi cán bộ khung là người thầy tại chỗ.
Tôi cuốc bộ tìm đến đơn vị anh, ngập ngừng gõ cửa. Anh đang miệt mài bên bàn làm việc. Nhận ra tôi, anh chạy lại, hai anh em ôm choàng lấy nhau mừng rỡ. Anh ôn tồn hỏi tôi về tình hình Trung đoàn, sức khỏe anh em và hỏi rất kỹ việc học tập của tôi. Thời gian trôi mau, đến lúc tôi phải về đơn vị. Trên đường tiễn tôi, anh nhỏ nhẹ nhắc tôi chăm chỉ học tập, rèn luyện, chú ý ghi chép, chỗ nào chưa rõ thì hỏi thầy, hỏi bạn, đừng giấu dốt. Anh bảo:
- Anh có xe đạp, khi nào rảnh, anh sẽ tới thăm em!
Giữ lời hứa, bốn tháng sau đó, tháng nào anh em tôi cũng gặp nhau. Anh luôn quan tâm, động viên tôi học tập.
Cuối tháng 12 năm 1974, tôi và một số học viên được cử về Trường Văn hóa ở Lạng Sơn để học ngoại ngữ, chuẩn bị đi học nước ngoài. Tôi đến chào anh. Nghe tôi báo tin, anh rất vui. Anh mong tôi ra nước ngoài học tập kết quả phải cao hơn trong nước.
Sau hơn 4 năm học ở Liên Xô, tháng 8 năm 1979, tôi về nước, được điều về Trường Sĩ quan Chính trị công tác. Thật vui vì Trường Sĩ quan Chính trị được thành lập ngày 14-1-1976, trên cơ sở hệ sơ cấp của Học viện Chính trị. Tôi hy vọng và vui mừng vì mình sẽ được gặp lại anh Nguyên và sẽ là đồng nghiệp của anh.
Người đầu tiên ra đón chúng tôi là Thiếu tá Lê Xuân Vệ, trước đây cùng đơn vị với tôi. Sau khi bắt tay anh, tôi có hỏi thăm anh về anh Nguyên. Giọng anh Vệ bỗng chùng xuống:
- Anh Nguyên hy sinh ở Cao Bằng cách đây 5 tháng em ạ!
Tôi bàng hoàng đón nhận tin anh đã hy sinh.
2. Đi tìm anh
Thời gian lặng lẽ trôi đi. Sau hơn mười năm công tác, tôi được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị của Trường Sĩ quan Chính trị. Vào khoảng tháng 7 năm 1993, một ngày nọ giở Báo Quân đội nhân dân (hình như là số cuối tuần), tôi bỗng giật mình khi được đọc bài báo nói về việc vừa tìm thấy hài cốt bốn liệt sĩ ở Hà Quảng - Cao Bằng. Trong số liệt sĩ được nêu trong bài báo, có nhắc đến một người tên là Nguyên, là cán bộ chính trị của đơn vị đến thực tập. Đúng là anh rồi! Đọc bài báo mà không tin nổi vào mắt mình, nước mắt tôi ứa ra tự lúc nào. Bất giác, lòng tôi cảm thấy nôn nao.
Khoảng mươi ngày sau, khi đang ngồi viết báo cáo thì được đồng chí trực ban cho biết có khách đến xin gặp thủ trưởng cơ quan. Tôi đứng dậy, bước ra phòng khách, trước mắt tôi là một phụ nữ với nét mặt đượm buồn, chị nói:
- Tôi là Tâm, vợ liệt sĩ Phạm Gia Nguyên...
Nghe lời chị kể, tôi sững sờ. Thì ra, năm 1979, gia đình đã nhận được giấy báo tử của anh. Sau đó 4 năm, gia đình đã lên Cao Bằng, tìm đến nghĩa trang, thấy ngôi mộ ghi tên Liệt sĩ Nguyên nên đã đưa về nghĩa trang địa phương để an táng. Chuyện đi tìm anh tưởng thế là xong nhưng cách đây ít ngày, khi đọc được bài đăng trên Báo Quân đội nhân dân, lại nhắc đến việc tìm thấy một liệt sĩ tên là Nguyên, là cán bộ Nhà trường chỉ huy bộ đội về thực tập, lòng chị thắt lại, rối bời, xót xa... muốn nhờ Nhà trường giúp đỡ, trở lại Cao Bằng tìm hiểu thực hư. Gia đình nghĩ rằng, có thể có hai liệt sĩ tên là Nguyên và hài cốt mà gia đình đưa về địa phương là một liệt sĩ khác, còn anh Phạm Gia Nguyên vẫn nằm ở Hà Quảng - Cao Bằng.
Chúng tôi cùng đi tìm, lật giở, thận trọng đọc lại bài báo "Tìm thấy thêm 4 hài cốt liệt sĩ tại Hà Quảng - Cao Bằng" đăng trên báo Quân đội nhân dân thứ Bảy, nay là Quân đội nhân dân cuối tuần số ra ngày 10-7-1993; tác giả bài viết là ông Lã Vinh ở Liên đoàn Lao động tỉnh Cao Bằng. Bài báo miêu tả khá tỉ mỉ cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, bắt nguồn từ lời kể của một nhân chứng, một người duy nhất còn sống sót sau trận đánh là chị Hoàng Thị Sinh khi đó công tác tại Phòng Y tế huyện Yên Lập, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị Sinh cho biết, lúc đó trong hang chỉ còn có 5 người: Anh Nguyễn Khắc Đế chỉ huy, anh Nguyên chị nhớ láng máng là thượng úy hay đại úy, là cán bộ chính trị đơn vị thực tập, chị và 2 chiến sĩ. Chị Sinh biết rất rõ các anh đã chiến đấu và dũng cảm hy sinh ra sao. Đây là cơ sở tin cậy để đi tìm hài cốt liệt sĩ Phạm Gia Nguyên.
Tôi điện thoại báo cáo sự việc với Trung tướng, Phó Giáo sư Văn Cương, lúc đó là Hiệu trưởng Nhà trường. Ông lặng đi giây lát rồi nói giọng xúc động:
- Nghĩa tử là nghĩa tận, anh em mình phải cố gắng cùng gia đình phối hợp với địa phương làm rõ việc này. Đồng chí mời gia đình lên gặp Ban Giám hiệu ngay nhé!
Sau cuộc gặp gỡ, động viên thân tình, Trung tướng Văn Cương đã chỉ thị cho cơ quan chính trị chuẩn bị mọi mặt để cùng gia đình lên đường ngay. Tôi rất muốn được đi tìm anh, song vì lúc này Nhà trường đang chuẩn bị diễn tập cuối khóa cho học viên nên tôi phải ở lại. Cơ quan cử Trung tá Nguyễn Bá San - Trợ lý Chính sách cùng gia đình chị Tâm lên đường.
Ngày ấy, đường sá còn khó khăn, xe đi từ 5 giờ sáng, mãi tới chiều hôm sau mới tới Hà Quảng. Qua xác minh, kiểm chứng thông tin, các nhân chứng và gia đình đều khẳng định, hài cốt được tìm thấy trong hang đá chính là liệt sĩ Phạm Gia Nguyên. Địa phương đã nhanh chóng làm các thủ tục để đưa hài cốt của anh về quê hương an táng trong nghĩa trang liệt sĩ. Riêng phần mộ của liệt sĩ Nguyên đã đưa về từ trước, vẫn để trong nghĩa trang dòng họ ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Hằng năm, cứ đến ngày kỷ niệm thành lập Trường Sĩ quan Chính trị, Ngày Thương binh Liệt sĩ, Tết Nguyên đán, Đảng ủy, Ban Giám hiệu đều cử cán bộ đi thăm, tặng quà các gia đình thương binh, liệt sĩ, tri ân những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Nhà trường, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tôi cùng anh em trong Phòng Chính trị có dịp tới thăm gia đình chị Tâm và các cháu. Chiến tranh đã lùi xa, thời gian đã làm lành những vết thương và dịu bớt nỗi đau. Mỗi lần gặp chị thấy mái tóc chị bạc thêm, gương mặt vẫn hiền từ phúc hậu. Sau khi chồng hy sinh, chị ở vậy và tần tảo nuôi hai con ăn học nên người. Nỗi đau mất anh do chiến tranh khó gì bù đắp, nhưng sự trưởng thành của các con là niềm hạnh phúc lớn lao giúp chị vượt qua những tháng năm đau buồn, cơ cực.
Mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm về anh Phạm Gia Nguyên, trong khóe mắt thẳm sâu của chị lại trào dâng những giọt lệ đong đầy. Chị kể: "Anh chị lấy nhau thời bao cấp, chị làm việc trong hợp tác xã thủ công, còn anh là cán bộ quản lý ở Học viện Chính trị rồi chuyển về Trường Sĩ quan Chính trị ở Bắc Ninh. Anh là người trọng tình hơn vật chất, gắn bó với Nhà trường, yêu ngành, yêu nghề, tận tụy, trách nhiệm với công việc, ân cần chu đáo với mọi người. Bằng trải nghiệm của mình, anh luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và giải đáp có lý, có tình những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Anh là trung tâm đoàn kết, nơi gửi gắm những ước mơ, hy vọng và cả những điều thầm kín nhất của cán bộ, học viên trong đơn vị". Ngày ấy kinh tế còn khó khăn, lương bộ đội của anh thì thấp. Sau ngày cưới, chị vẫn ở nhà bố mẹ trên phố Nguyễn Du, anh bận nhiều việc lâu lâu mới về thăm gia đình, động viên vợ con. Trước ngày lên đường chiến đấu, anh đã giấu chị, chỉ nói là lên cơ quan như bình thường. Nhưng linh cảm của người vợ trẻ cho chị thấy có điều gì chẳng lành sắp diễn ra. Không hiểu sao, lúc chia tay, chị bỗng òa khóc nức nở, nằng nặc đòi anh ở lại. Vậy mà, anh vẫn cười hiền động viên chị:
- Ơ hay! Người ta lên Trường làm việc, có đi đâu đâu mà lo lắng! Việc gì em phải khóc thế này?
Rồi anh ra đi, đi mãi mãi không về....
Sau này, khi đọc được bài đăng trên Báo Quân đội nhân dân, chị và gia đình mới bàng hoàng biết đã tìm nhầm mộ đồng đội anh đưa về quê thờ cúng, còn hài cốt của anh vẫn trên Hà Quảng. Sau chuyến đi cùng đoàn cán bộ Nhà trường, qua các nhân chứng, đặc biệt là chị Hoàng Thị Sinh - y tá của đơn vị chiến đấu cùng anh, chị mới biết anh và đồng đội đã dồn sức chiến đấu, tựa lưng vào nhau, chắc tay súng bảo vệ biên cương Tổ quốc và đã hy sinh trong tư thế của người chiến thắng.
Lịch sử Trường Sĩ quan Chính trị đã ghi: "Nhiều cán bộ trong Ban chỉ đạo thực tập của Trường đã chiến đấu rất dũng cảm. Một số đồng chí anh dũng hy sinh vì chủ quyền đất nước, vì độc lập của Tổ quốc và vì hạnh phúc của nhân dân, như các anh: Nguyễn Mộng Lục, Phạm Gia Nguyên, Phan Đình Linh... Tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu kiên cường và năng lực tổ chức chỉ huy chiến đấu tốt của cán bộ, học viên đoàn thực tập đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng cán bộ, chiến sĩ đơn vị và nhân dân địa phương". Trong Thư gửi Ban Giám hiệu Nhà trường, đồng chí Thượng tá, Chính ủy Lê Cảnh thay mặt Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng khẳng định: "Nhà trường đã đào tạo những cán bộ có tinh thần dũng cảm, có năng lực chỉ huy, xứng đáng là người chính trị viên, là linh hồn của bộ đội".
Những thông tin ấy cùng ánh mắt, lời nói của anh lúc chia tay, sau bao nhiêu năm càng khiến chị và chúng tôi hiểu sâu sắc hơn phẩm chất của người chính trị viên nơi anh. Dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn, nguy hiểm đến đâu, anh cũng luôn bình tĩnh, động viên mọi người, vì mọi người, vì nhiệm vụ mà quên cả bản thân mình...