Vận dụng khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc trong xây dựng đội ngũ nhà giáo ở Trường Đại học Chính trị
- Thứ sáu - 25/09/2026 15:39
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam là căn cứ thống nhất để xác định trình độ từ bậc 1 đến bậc 6, trên các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Tuy nhiên, đối với nhà giáo, một bậc năng lực chỉ thực sự có ý nghĩa khi được gắn với yêu cầu của vị trí việc làm và nhiệm vụ chuyên môn. Vì vậy, Nhà trường cần vận dụng Khung 6 bậc để xác định mặt bằng trình độ; đồng thời, cụ thể hóa thành yêu cầu sử dụng ngoại ngữ phù hợp với từng nhóm nhà giáo, tránh đồng nhất năng lực với chứng chỉ.
Trên cơ sở đó, yêu cầu ngoại ngữ cần được xác định theo đặc thù công việc. Giảng viên ngoại ngữ cần có năng lực ngôn ngữ ở mức cao, đồng thời vững phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá. Giảng viên các khoa chuyên ngành cần chú trọng đọc hiểu tài liệu, khai thác thuật ngữ, tìm kiếm và kiểm chứng nguồn, phát triển học liệu và trao đổi học thuật. Đối với giảng viên trẻ, cán bộ khoa học đầu ngành và lực lượng đào tạo sau đại học, cần tăng cường năng lực viết, trình bày, công bố và hợp tác nghiên cứu.
Quan trọng hơn, việc bồi dưỡng cần chuyển từ “học để đạt chuẩn” sang sử dụng ngoại ngữ để thực hiện nhiệm vụ. Thay vì chỉ chú trọng luyện thi, nội dung bồi dưỡng cần gắn với những công việc cụ thể như đọc và tóm tắt tài liệu chuyên ngành, xây dựng bảng thuật ngữ phục vụ bài giảng, khai thác và trích dẫn nguồn tiếng Anh, viết tóm tắt bài báo, trình bày nội dung chuyên môn hoặc hướng dẫn học viên khai thác học liệu. Mỗi nội dung bồi dưỡng nên hướng tới một sản phẩm cụ thể, qua đó vừa nâng cao năng lực ngoại ngữ, vừa tạo ra sản phẩm phục vụ trực tiếp cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Trên cơ sở đó, yêu cầu ngoại ngữ cần được xác định theo đặc thù công việc. Giảng viên ngoại ngữ cần có năng lực ngôn ngữ ở mức cao, đồng thời vững phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá. Giảng viên các khoa chuyên ngành cần chú trọng đọc hiểu tài liệu, khai thác thuật ngữ, tìm kiếm và kiểm chứng nguồn, phát triển học liệu và trao đổi học thuật. Đối với giảng viên trẻ, cán bộ khoa học đầu ngành và lực lượng đào tạo sau đại học, cần tăng cường năng lực viết, trình bày, công bố và hợp tác nghiên cứu.
Quan trọng hơn, việc bồi dưỡng cần chuyển từ “học để đạt chuẩn” sang sử dụng ngoại ngữ để thực hiện nhiệm vụ. Thay vì chỉ chú trọng luyện thi, nội dung bồi dưỡng cần gắn với những công việc cụ thể như đọc và tóm tắt tài liệu chuyên ngành, xây dựng bảng thuật ngữ phục vụ bài giảng, khai thác và trích dẫn nguồn tiếng Anh, viết tóm tắt bài báo, trình bày nội dung chuyên môn hoặc hướng dẫn học viên khai thác học liệu. Mỗi nội dung bồi dưỡng nên hướng tới một sản phẩm cụ thể, qua đó vừa nâng cao năng lực ngoại ngữ, vừa tạo ra sản phẩm phục vụ trực tiếp cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Giảng viên Trường Đại học Chính trị tham gia khoá tập huấn
Phương pháp dạy học tiếng Anh toàn quân.
Cùng với bồi dưỡng, cần tạo môi trường để đội ngũ thường xuyên sử dụng ngoại ngữ. Các nhóm đọc tài liệu, seminar, tọa đàm, giới thiệu sách, bảng thuật ngữ song ngữ và hoạt động trình bày chuyên môn bằng tiếng Anh ở mức phù hợp có thể từng bước hình thành thói quen sử dụng ngoại ngữ trong công việc. Chuyển đổi số cũng mở thêm nhiều phương thức hỗ trợ thông qua mã QR, trang web học tập, bài giảng E-learning và các công cụ tương tác. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tra cứu, luyện tập, dịch, tóm tắt và hiệu đính, song phải được sử dụng có kiểm soát, bảo đảm kiểm chứng nội dung, nguồn trích dẫn, bản quyền, bảo mật và an toàn thông tin trong môi trường quân sự.

Đồng chí Trung tá Hà Minh, giảng viên Khoa Văn hoá, ngoại ngữ
trao đổi chuyên môn với các giảng viên ở các nhà trường quân đội khác.
Trong quá trình triển khai, Khoa Văn hóa, ngoại ngữ giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, tư vấn, tổ chức bồi dưỡng và đánh giá; các khoa chuyên ngành phối hợp xác định nội dung, thuật ngữ và sản phẩm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đưa phát triển năng lực ngoại ngữ vào kế hoạch xây dựng đội ngũ; bảo đảm thời gian, học liệu, hạ tầng và thường xuyên điều chỉnh cách tổ chức. Mỗi nhà giáo cần chủ động xây dựng lộ trình, duy trì tự học và từng bước đưa ngoại ngữ vào thực hiện nhiệm vụ thường xuyên.
Vận dụng Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc theo hướng gắn chuẩn trình độ với vị trí việc làm và sản phẩm nghề nghiệp sẽ góp phần chuyển ngoại ngữ từ một yêu cầu chuẩn hóa thành công cụ làm việc thiết thực của đội ngũ nhà giáo. Qua đó, năng lực của từng cá nhân từng bước được chuyển hóa thành năng lực chung của đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng Trường Đại học Chính trị vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Vận dụng Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc theo hướng gắn chuẩn trình độ với vị trí việc làm và sản phẩm nghề nghiệp sẽ góp phần chuyển ngoại ngữ từ một yêu cầu chuẩn hóa thành công cụ làm việc thiết thực của đội ngũ nhà giáo. Qua đó, năng lực của từng cá nhân từng bước được chuyển hóa thành năng lực chung của đội ngũ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, xây dựng Trường Đại học Chính trị vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.