ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 VỚI XÂY DỰNG QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY
- Thứ sáu - 29/04/2016 20:39
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Trong chiến tranh, quân đội bao giờ cũng là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp quyết định sự thắng lợi trên chiến trường. Vì vậy, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội, đảm bảo quân đội luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, có quyết tâm thì làm gì cũng được”(3) và “Có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”(1). Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt 21 năm kháng chiếntrường kỳ, làm nên thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược vốn là truyền thống quật cường, bất khuất lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại thắng mùa Xuân 1975 là chiến công chói lọi, là thắng lợi vĩ đại của toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó phản ánh nghị lực phi thường của nhân dân ta; đồng thời, khẳng định ý chí, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Thực tế lịch sử đương thời cho thấy, đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, có tiềm lực quân sự gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta phải đối mặt trước đó. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, là tên “sen đầm” của chủ nghĩa tư bản với bom nguyên tử và đồng đô la. Trên thế giới lúc bấy giờ, tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan rộng. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều ý kiến đồng tình ủng hộ, song cũng không ít ý kiến cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân đội vào miền Nam tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đồng thời leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Lúc đó rất nhiều người có thiện chí cũng tỏ ra lo ngại rằng, Việt Nam sẽ bị sức mạnh quân sự của Mỹ đè bẹp. Như vậy, vấn đề đặt ra là: Việt Nam có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không? Trước tình hình đó, Đảng ta sáng suốt nhận định: Mỹ là một đội quân mạnh nhưng vào miền Nam không phải trong thế mạnh, mà trong thế yếu, thế bị động. Chỗ yếu cơ bản nhất của chúng vẫn là về chính trị. Còn về phía ta, lúc này không chỉ đã mạnh về chính trị mà cả về quân sự. Đây là cơ sở để ta hạ quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Do đó, Hội nghị Trung ương 12 (tháng 12-1965) đã đề ra nhiệm vụ: Động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.
Ngay từ đầu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm chống Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Đảng ta khẳng định: chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng hàng đầu của cả dân tộc, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn tình hình và tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Trung ương Đảng khẳng định: trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ giàu nhưng không mạnh; dân tộc ta có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.
Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ là quyết tâm của toàn Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân và của cả dân tộc Việt Nam. Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (2). Quyết tâm ấy được thể hiện rõ nét trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình lực lượng so sánh giữa ta và địch. Chúng ta xây dựng quyết tâm trên cơ sở xem xét toàn diện cả chính trị và quân sự; kinh tế và văn hoá xã hội; vật chất và tinh thần; số lượng và chất lượng; thế và lực; điều kiện khách quan và chủ quan; nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật tác chiến; tình hình trong nước ở cả hai miền Nam và Bắc; tình hình trong nước và thế giới… Nhờ đó, quyết tâm đánh thắng Mỹ trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh càng mạnh và giành thắng lợi to lớn, đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, do nắm bắt được thành tựu của khoa học công nghệ, tiềm lực quân sự quốc phòng của các nước tư bản ngày càng phát triển vượt trội. Những cuộc chiến tranh diễn ra trên thế giới những năm gần đây cho thấy, các loại vũ khí được sử dụng mang tính sát thương và huỷ diệt ngày càng lớn. Vấn đề này đã gây ra tâm lý lo lắng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng ý chí quyết tâm của Quân đội ta trước nguy cơ chiến tranh công nghệ cao. Để phát huy tinh thần của Đại thắng mùa xuân 1975 trong xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội, cần thực hiện tốt những biện pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, giúp họ giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc và truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm, tính chất của chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội; giúp bộ đội thấy được điểm mạnh, điểm yếu của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta; nhận thức đúng về đối tác, đối tượng,… Trên cơ sở đó, củng cố quyết tâm, xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng; làm cho cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa; tin tưởng sức mạnh chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; tin tưởng sâu sắc vào lực lượng vũ trang, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, cần sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp phong phú, sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục cao phù hợp với từng đối tượng để xây dựng, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ.
Hai là, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, tăng cường các hình thức diễn tập giúp bộ đội có trình độ tác chiến giỏi.
Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có kỹ năng chiến đấu, không được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khoẻ tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng. Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi” (4). Theo đó, toàn quân phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, tăng cường các hình thức diễn tập theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Trong huấn luyện, cần tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng kỹ chiến thuật, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Trong thời bình, cần tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ để bộ đội có điều kiện thử thách, rèn luyện lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, “hình thức”, để không ngừng đưa chất lượng huấn luyện vào thực chất, hiệu quả, sát tình huống chiến đấu.
Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ trong nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội.
Đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Do đó, đội ngũ cán bộ phải có nhận thức tốt về chức trách được giao; luôn luôn cầu thị, ham học hỏi nâng cao trình độ, năng lực bản thân, phải hiểu biết sâu về chiến tranh công nghệ cao để không sợ vũ khí của địch, tự tìm vũ khí và cách đánh của ta, chống các biểu hiện nhận thức lệch lạc, âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Cán bộ phải gương mẫu trong mỗi lời nói, hành động; phát huy tư duy độc lập, sáng tạo để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược...
Từ đó, đội ngũ cán bộ cần tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Trong đó, trọng tâm là giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, mình vì mọi người, chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ; đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, niềm tin, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, đấu tranh làm thất bại những quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch.
Bốn là, tăng cường giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.
Tăng cường giáo dục làm cho bộ đội nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam. Cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị viên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; quản lý chặt chẽ những “kênh” thông tin mà kẻ địch thường sử dụng để truyền bá quan điểm, luận điểm xuyên tạc, phản động; dự báo những tình huống phức tạp nảy sinh về tư tưởng chính trị trong cán bộ, chiến sĩ và xác định biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả. Trên cơ sở nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù cần giúp bộ đội có phương pháp đánh giá khách quan khoa học những điểm mạnh, điểm yếu của chúng, thấy rõ sức mạnh của ta là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất; đồng thời, vạch rõ chỗ yếu của kẻ thù khi chúng tiến hành chiến tranh phi nghĩa. Từ đó, giúp bộ đội xây dựng niềm tin vào cách đánh sáng tạo, tin vào vũ khí trang bị hiện có để sẵn sàng đánh thắng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao trong tương lai của bất kỳ kẻ thù nào./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1), (2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 235, 38
(3), (4): Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 572, 573.
Quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược vốn là truyền thống quật cường, bất khuất lâu đời của dân tộc Việt Nam. Truyền thống ấy được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại thắng mùa Xuân 1975 là chiến công chói lọi, là thắng lợi vĩ đại của toàn bộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó phản ánh nghị lực phi thường của nhân dân ta; đồng thời, khẳng định ý chí, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Thực tế lịch sử đương thời cho thấy, đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, có tiềm lực quân sự gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta phải đối mặt trước đó. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, là tên “sen đầm” của chủ nghĩa tư bản với bom nguyên tử và đồng đô la. Trên thế giới lúc bấy giờ, tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan rộng. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều ý kiến đồng tình ủng hộ, song cũng không ít ý kiến cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân đội vào miền Nam tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đồng thời leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Lúc đó rất nhiều người có thiện chí cũng tỏ ra lo ngại rằng, Việt Nam sẽ bị sức mạnh quân sự của Mỹ đè bẹp. Như vậy, vấn đề đặt ra là: Việt Nam có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không? Trước tình hình đó, Đảng ta sáng suốt nhận định: Mỹ là một đội quân mạnh nhưng vào miền Nam không phải trong thế mạnh, mà trong thế yếu, thế bị động. Chỗ yếu cơ bản nhất của chúng vẫn là về chính trị. Còn về phía ta, lúc này không chỉ đã mạnh về chính trị mà cả về quân sự. Đây là cơ sở để ta hạ quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Do đó, Hội nghị Trung ương 12 (tháng 12-1965) đã đề ra nhiệm vụ: Động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.
Ngay từ đầu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm chống Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Đảng ta khẳng định: chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng hàng đầu của cả dân tộc, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn tình hình và tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Trung ương Đảng khẳng định: trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ giàu nhưng không mạnh; dân tộc ta có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.
Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ là quyết tâm của toàn Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân và của cả dân tộc Việt Nam. Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (2). Quyết tâm ấy được thể hiện rõ nét trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình lực lượng so sánh giữa ta và địch. Chúng ta xây dựng quyết tâm trên cơ sở xem xét toàn diện cả chính trị và quân sự; kinh tế và văn hoá xã hội; vật chất và tinh thần; số lượng và chất lượng; thế và lực; điều kiện khách quan và chủ quan; nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật tác chiến; tình hình trong nước ở cả hai miền Nam và Bắc; tình hình trong nước và thế giới… Nhờ đó, quyết tâm đánh thắng Mỹ trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh càng mạnh và giành thắng lợi to lớn, đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975, đưa đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, do nắm bắt được thành tựu của khoa học công nghệ, tiềm lực quân sự quốc phòng của các nước tư bản ngày càng phát triển vượt trội. Những cuộc chiến tranh diễn ra trên thế giới những năm gần đây cho thấy, các loại vũ khí được sử dụng mang tính sát thương và huỷ diệt ngày càng lớn. Vấn đề này đã gây ra tâm lý lo lắng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng ý chí quyết tâm của Quân đội ta trước nguy cơ chiến tranh công nghệ cao. Để phát huy tinh thần của Đại thắng mùa xuân 1975 trong xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội, cần thực hiện tốt những biện pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, giúp họ giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của quân đội và đơn vị. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc và truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm, tính chất của chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội; giúp bộ đội thấy được điểm mạnh, điểm yếu của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta; nhận thức đúng về đối tác, đối tượng,… Trên cơ sở đó, củng cố quyết tâm, xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng; làm cho cán bộ, chiến sĩ tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa; tin tưởng sức mạnh chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; tin tưởng sâu sắc vào lực lượng vũ trang, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, cần sử dụng tổng hợp các hình thức, biện pháp phong phú, sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục cao phù hợp với từng đối tượng để xây dựng, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ.
Hai là, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, tăng cường các hình thức diễn tập giúp bộ đội có trình độ tác chiến giỏi.
Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có kỹ năng chiến đấu, không được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khoẻ tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng. Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi” (4). Theo đó, toàn quân phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, tăng cường các hình thức diễn tập theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Trong huấn luyện, cần tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng kỹ chiến thuật, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Trong thời bình, cần tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ để bộ đội có điều kiện thử thách, rèn luyện lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, “hình thức”, để không ngừng đưa chất lượng huấn luyện vào thực chất, hiệu quả, sát tình huống chiến đấu.
Ba là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ trong nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội.
Đội ngũ cán bộ có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Do đó, đội ngũ cán bộ phải có nhận thức tốt về chức trách được giao; luôn luôn cầu thị, ham học hỏi nâng cao trình độ, năng lực bản thân, phải hiểu biết sâu về chiến tranh công nghệ cao để không sợ vũ khí của địch, tự tìm vũ khí và cách đánh của ta, chống các biểu hiện nhận thức lệch lạc, âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Cán bộ phải gương mẫu trong mỗi lời nói, hành động; phát huy tư duy độc lập, sáng tạo để hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược...
Từ đó, đội ngũ cán bộ cần tăng cường công tác giáo dục nhằm nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội. Trong đó, trọng tâm là giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, mình vì mọi người, chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ; đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, niềm tin, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, đấu tranh làm thất bại những quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch.
Bốn là, tăng cường giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.
Tăng cường giáo dục làm cho bộ đội nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam. Cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị viên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; quản lý chặt chẽ những “kênh” thông tin mà kẻ địch thường sử dụng để truyền bá quan điểm, luận điểm xuyên tạc, phản động; dự báo những tình huống phức tạp nảy sinh về tư tưởng chính trị trong cán bộ, chiến sĩ và xác định biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả. Trên cơ sở nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù cần giúp bộ đội có phương pháp đánh giá khách quan khoa học những điểm mạnh, điểm yếu của chúng, thấy rõ sức mạnh của ta là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất; đồng thời, vạch rõ chỗ yếu của kẻ thù khi chúng tiến hành chiến tranh phi nghĩa. Từ đó, giúp bộ đội xây dựng niềm tin vào cách đánh sáng tạo, tin vào vũ khí trang bị hiện có để sẵn sàng đánh thắng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao trong tương lai của bất kỳ kẻ thù nào./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1), (2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 235, 38
(3), (4): Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 572, 573.