Đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm vượt qua mọi thử thách, chông gai, giữ vững niềm tin và giương cao ngọn cờ lãnh đạo
- Thứ hai - 03/02/2025 14:59
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Thực tiễn đã chứng minh, kể từ khi xuất hiện trên vũ đài lịch sử, Đảng ta đã luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của mình là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và chính niềm tin mãnh liệt ấy đã giúp cho Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập (1930 - 1945), giữa lúc dân tộc ta trải qua giai đoạn khủng hoảng về đường lối cứu nước; dưới ách thống trị của thực dân Pháp và sau đó là phát xít Nhật: Kinh tế, chính trị, xã hội bị bóp nghẹt, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, nạn đói năm 1945 cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người; Đảng ta đã “nằm gai, nếm mật”, kiên trì xây dựng, phát triển đội ngũ của Đảng và lực lượng cách mạng, gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối. Nhờ vậy, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta với quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và chân lý bất diệt “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã lần lượt lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua nhiều hoàn cảnh ngặt nghèo để đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cùng một lúc phải đương đầu với “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta kiên cường bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ; đồng thời, bằng đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ (năm 1954), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Từ năm 1955 đến năm 1975, đất nước ta lại bị chia cắt làm hai miền. Đảng lãnh đạo miền Bắc vừa nỗ lực xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa dốc sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam; Lãnh đạo Nhân dân miền Nam đấu tranh kiên cường để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Nhờ đường lối đúng đắn, sáng tạo nên dù phải đối đầu với kẻ thù có tiềm lực quân sự vượt trội, nhưng quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối. Trong lúc phải khẩn trương khắc phục những hậu quả vô cùng nặng nề do chiến tranh để lại, Nhân dân Việt Nam lại tiếp tục phải đương đầu với những cuộc chiến tranh mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta vừa tập trung khôi phục kinh tế - xã hội, vừa chiến đấu bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước.
Sau khi đất nước được thống nhất, nước ta phải đối mặt với nhiều hậu quả rất nặng nề của 30 năm chiến tranh để lại. Cùng với đó, những bất cập của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm sau chiến tranh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, “đổi mới tư duy”, đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới ra đời đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn lịch sử, thể hiện bản lĩnh vững vàng, tư duy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước.
Cùng với sự phát triển của thực tiễn, đường lối đổi mới đã từng bước được hoàn thiện thông qua các các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI, Đại hội XII, Đại hội XIII. Nhờ vậy, chúng ta đã vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũng như nhiều biến cố, nhiều cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu để kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam.
Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực sự đem lại những thay đổi lớn lao, rất tốt đẹp cho đất nước trong gần 40 năm qua, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như khẳng định của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, từ một nước nghèo, kém phát triển, bị bao vây, cấm vận, nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt gần 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2024 đạt khoảng 476,3 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 34 thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.700 USD năm 2024; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực, mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp và dịch vụ phát triển khá nhanh, liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 88% GDP. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2024 đạt mức kỷ lục gần 800 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 400 tỉ USD; đưa Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 17 toàn cầu. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 1,9% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2024. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có gần 80% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2024 được các tổ chức quốc tế có uy tín xếp thứ 54/143 quốc gia được xếp hạng.
Trong điều kiện xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, Đảng ta vẫn thường xuyên sát sao lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước đã tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Nhờ đó, nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội luôn được bảo đảm. Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2023 của Việt Nam đứng thứ 41 trong số 163 nước được xếp hạng. Nước ta được các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đánh giá là điểm đến hấp dẫn và an toàn hàng đầu thế giới.
Với sách lược “ngoại giao cây tre” độc đáo: Vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo, nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái, nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, đến nay, nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 194 nước, trong đó đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 9 quốc gia, trong đó có 4/5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cùng quan hệ chiến lược với hàng chục quốc gia khác; đồng thời, chủ động tham gia một cách tích cực và có trách nhiệm trong nhiều tổ chức quốc tế. Chúng ta cũng có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này thể hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Một chính sách đối ngoại như vậy đã tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất từ trước đến nay để Việt Nam tiếp tục hội nhập và phát triển khi bước vào “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Chúng ta tự hào, tin tưởng tiến bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp; các cuộc xung đột quân sự ở một số khu vực trên thế giới tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, có thể đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta,... Ở trong nước, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều trở lực, nhiều điểm nghẽn của sự phát triển. Phát biểu tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra: 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, trong đó “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Tình hình trên đòi hỏi hơn lúc nào hết, Đảng ta cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tiếp tục giương cao ngọn cờ lãnh đạo, đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Trước hết, cần tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả việc tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, “tinh”, “gọn” bộ máy theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm. Sắp xếp lại các cơ quan nhà nước theo hướng giảm bớt đầu mối, tránh trùng lặp chức năng nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và đạo đức tốt; đồng thời, áp dụng chế độ đánh giá, khen thưởng và kỷ luật minh bạch. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, dễ hiểu và dễ thực thi. Tăng cường công khai, minh bạch trong việc ban hành chính sách, đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân được tham gia đóng góp ý kiến. Loại bỏ các văn bản, quy định chồng chéo, không phù hợp hoặc cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử và tiến tới chính phủ số. Tăng cường kết nối và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để xử lý công việc hiệu quả. Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Đào tạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức. Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị công để cải thiện hiệu quả hoạt động. Xây dựng văn hóa phục vụ người dân, lấy người dân làm trung tâm trong quản lý nhà nước.
Tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững. Tập trung ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết có hiệu quả những khó khăn, hạn chế, yếu kém, cả trước mắt lẫn lâu dài của nền kinh tế để giữ vững đà phục hồi, tăng trưởng nhanh và bền vững, thực chất hơn; tạo chuyển biến mạnh hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,... gắn với tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Đảng cần lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện phát triển văn hóa, xã hội bảo đảm hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân, người lao động mất việc làm và doanh nghiệp gặp khó khăn. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa nông thôn, đô thị, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa, nhất là ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, văn hóa tốt đẹp. Xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội.
Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ. Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại đã ký kết, tranh thủ tối đa lợi ích mà các hiệp định này có thể đem lại.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài, liêm chính, tâm huyết; thật sự vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy nhà nước. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương; tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực,...
Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập trong bối cảnh toàn dân tộc mong đợi vào một bước chuyển mình ở kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn, Đảng ta sẽ tiếp tục vững tin ở mục tiêu, lý tưởng và con đường đã xác định, giương cao ngọn cờ lãnh đạo, tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác ghềnh thời đại mà cập bến vinh quang./.
Cùng với sự phát triển của thực tiễn, đường lối đổi mới đã từng bước được hoàn thiện thông qua các các văn kiện quan trọng của Đảng qua các kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI, Đại hội XII, Đại hội XIII. Nhờ vậy, chúng ta đã vượt qua thách thức từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cũng như nhiều biến cố, nhiều cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu để kiên định, tiếp tục vững bước và sáng tạo trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc điểm của Việt Nam.
Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực sự đem lại những thay đổi lớn lao, rất tốt đẹp cho đất nước trong gần 40 năm qua, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như khẳng định của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, từ một nước nghèo, kém phát triển, bị bao vây, cấm vận, nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt gần 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2024 đạt khoảng 476,3 tỉ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 34 thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.700 USD năm 2024; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực, mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp và dịch vụ phát triển khá nhanh, liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 88% GDP. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2024 đạt mức kỷ lục gần 800 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 400 tỉ USD; đưa Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 17 toàn cầu. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 1,9% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2024. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có gần 80% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2024 được các tổ chức quốc tế có uy tín xếp thứ 54/143 quốc gia được xếp hạng.
Trong điều kiện xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, Đảng ta vẫn thường xuyên sát sao lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước đã tăng cường đầu tư thích đáng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Nhờ đó, nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được củng cố, tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội luôn được bảo đảm. Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2023 của Việt Nam đứng thứ 41 trong số 163 nước được xếp hạng. Nước ta được các nhà đầu tư nước ngoài và du khách quốc tế đánh giá là điểm đến hấp dẫn và an toàn hàng đầu thế giới.
Với sách lược “ngoại giao cây tre” độc đáo: Vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo, nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo, nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái, nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, đến nay, nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 194 nước, trong đó đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 9 quốc gia, trong đó có 4/5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, cùng quan hệ chiến lược với hàng chục quốc gia khác; đồng thời, chủ động tham gia một cách tích cực và có trách nhiệm trong nhiều tổ chức quốc tế. Chúng ta cũng có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này thể hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên thế giới. Một chính sách đối ngoại như vậy đã tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất từ trước đến nay để Việt Nam tiếp tục hội nhập và phát triển khi bước vào “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Chúng ta tự hào, tin tưởng tiến bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp; các cuộc xung đột quân sự ở một số khu vực trên thế giới tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, có thể đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta,... Ở trong nước, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều trở lực, nhiều điểm nghẽn của sự phát triển. Phát biểu tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra: 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, trong đó “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Tình hình trên đòi hỏi hơn lúc nào hết, Đảng ta cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tiếp tục giương cao ngọn cờ lãnh đạo, đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Trước hết, cần tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả việc tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, “tinh”, “gọn” bộ máy theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm. Sắp xếp lại các cơ quan nhà nước theo hướng giảm bớt đầu mối, tránh trùng lặp chức năng nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực và đạo đức tốt; đồng thời, áp dụng chế độ đánh giá, khen thưởng và kỷ luật minh bạch. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, dễ hiểu và dễ thực thi. Tăng cường công khai, minh bạch trong việc ban hành chính sách, đảm bảo mọi tầng lớp nhân dân được tham gia đóng góp ý kiến. Loại bỏ các văn bản, quy định chồng chéo, không phù hợp hoặc cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử và tiến tới chính phủ số. Tăng cường kết nối và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để xử lý công việc hiệu quả. Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Đào tạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức. Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị công để cải thiện hiệu quả hoạt động. Xây dựng văn hóa phục vụ người dân, lấy người dân làm trung tâm trong quản lý nhà nước.
Tiếp tục thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nhanh và bền vững. Tập trung ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; giải quyết có hiệu quả những khó khăn, hạn chế, yếu kém, cả trước mắt lẫn lâu dài của nền kinh tế để giữ vững đà phục hồi, tăng trưởng nhanh và bền vững, thực chất hơn; tạo chuyển biến mạnh hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn,... gắn với tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Đảng cần lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện phát triển văn hóa, xã hội bảo đảm hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ người dân, người lao động mất việc làm và doanh nghiệp gặp khó khăn. Chăm lo đời sống người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa nông thôn, đô thị, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững. Nâng cao hiệu quả của các thiết chế văn hóa, nhất là ở các khu công nghiệp, khu đô thị mới; bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, văn hóa tốt đẹp. Xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và quan tâm hơn nữa đến việc phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em và tệ nạn xã hội.
Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ. Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết. Triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại đã ký kết, tranh thủ tối đa lợi ích mà các hiệp định này có thể đem lại.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ Trung ương đến địa phương. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Làm tốt hơn nữa công tác cán bộ để lựa chọn, bố trí đúng những người thật sự có đức, có tài, liêm chính, tâm huyết; thật sự vì nước, vì dân vào các vị trí lãnh đạo của bộ máy nhà nước. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương; tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với việc đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực,...
Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập trong bối cảnh toàn dân tộc mong đợi vào một bước chuyển mình ở kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn, Đảng ta sẽ tiếp tục vững tin ở mục tiêu, lý tưởng và con đường đã xác định, giương cao ngọn cờ lãnh đạo, tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những thác ghềnh thời đại mà cập bến vinh quang./.