Bạn tôi
- Thứ ba - 12/04/2016 16:03
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Nam vẫn vậy, vẫn háo hức khi kể chuyện xưa. Những câu chuyện có lẽ đã in sâu vào tiềm thức của Nam, những câu chuyện mà tôi đã được nghe nhiều lần, nhưng mỗi lần nghe, cậu ta lại thổi vào đó những hơi hướng mới.
Nam là bạn tôi từ thời học phổ thông, thỉnh thoảng mới gặp nhau, nhưng mỗi lần gặp lại, chúng tôi lại có thêm một câu chuyện và nhiều lúc cũng không ra đầu, ra cuối, bởi mỗi người thường theo đuổi những cảm xúc khác nhau, chuyện không lớn, chẳng qua là nhiễm một chút nghề nghiệp, mà có lẽ thế nên mới chơi được với nhau.
Vùng đất mà cậu ta gắn bó hơn hai mươi năm nay, thân thuộc đến mức, Nam có thể tả cảnh một gốc cây, bờ suối, con đường, làng bản, phố phường với tình người, tình đất, thậm chí còn pha chút huyền hoặc.
Chuyện phong cảnh, Nam có lúc như thầy phong thủy, cũng hình sông, thế núi, cũng hướng đón gió, đón mưa, rồi long mạch. Nam có thể cuốn hút người nghe, thậm chí như tôi, là người gắn bó với thổ nhưỡng, kỹ thuật canh tác, canh nông của anh kỹ sư nông nghiệp cũng lấy làm thích thú trước những khám phá rất mới lạ. Có lần, Nam kể, có một cây cổ thụ trên Đèo Gió cứu cả cái xe tải như có phép lạ. Theo lời kể: Do đường hẹp, mưa phùn trơn trượt, lại thêm sương mù cản trở tầm nhìn, chiếc xe tải trượt bánh khỏi đường, có thể lật nghiêng (nghe thật thót tim), nhưng không, cả cái xe to, nặng là thế đã được phanh kịp, dựa vào cây cổ thụ to và... đứng im. Cái cây ấy được cánh lái xe đường dài coi như thần hộ mệnh, có người còn hương khói, nghe chừng linh thiêng lắm. Lâu rồi, chuyện ấy mờ dần, vì mọi người tin vào phước tốt của cung đường này. Rồi chuyện Đèo Giàng, Đèo Mây, cầu Tà Sìn cứ như ở chốn trời đất gặp nhau với bảng lảng mây mù, tia nắng xiên ngang, đường quanh co, uốn lượn; cảnh trí có thể làm thay đổi cảm giác con người, làm cho người ta tưởng là thâm thấp, vì gần gũi quá, nhưng nếu để ý, nhất là khi nắng to, nhìn xuống con đường nhỏ bé với những chiếc xe ô tô như con cua bò dốc thì không khỏi giật mình, cao thật! Và đúng là mây, gió. Đã có lần hứng lên Nam nói, mỗi khi trở về đơn vị công tác, mình đều thấy Cao Bằng, đúng là cao thật, nhưng lại bằng; nếu có dịp lên thăm Cao Bằng qua cánh đồng Hòa An, ông bạn sẽ thấy. Tôi thì chỉ nghĩ chắc anh sĩ quan có con mắt quan sát địa hình, hay tìm hiểu dân gian nên thấm thía thế thôi.
Nam đóng quân ở Cao Bằng đã hơn hai mươi năm nay.
Là bạn học, có những lúc tôi cũng tự hỏi, thời phổ thông, Nam không mạnh bạo lắm, thậm chí còn nhút nhát, thế mà lại là sĩ quan quân đội được nhỉ. Lý giải về sự nhút nhát, bạch diện thư sinh, Nam nói vì học trong lớp con gái đông hơn con trai, bao nhiêu chức sắc họ rinh cả, quyền chỉ huy, lực lượng họ chiếm ưu thế, nên bị "nữ hóa tạm thời" cũng là hợp lẽ, chứ có gì lớn đâu. Tôi thì nghĩ khác, chẳng qua là thiếu nam tính nên biện bạch. Chẳng thế mà, chuẩn bị hết phổ thông, thi đại học, là người học giỏi, sức khỏe tốt nhưng khi các bạn lôi kéo thử sức thi vào các trường quân sự thì cậu ta chối đây đẩy, rằng nó không hợp với mình, vất vả lắm.
Thế rồi, đang học Trường Đại học Nông nghiệp cùng tôi, tự nhiên Nam xin nhập ngũ, lý do được đưa ra lúc đó nghe rất lãng mạn, thực dụng, rằng tôi yêu thiên nhiên, thích đi đây đó, thích khám phá và thử một chút cảm giác xa nhà, nếu có điều kiện thì phục vụ lâu dài trong quân ngũ. Sau này, trong lần tâm sự, Nam có nói không phải thế, mà cái chính là muốn rèn luyện, giũ bỏ "nữ tính tạm thời" nhờ môi trường quân đội, sau tại ngũ, về học tiếp cũng chưa muộn, vì chỉ có vài, ba năm thôi. Cứ nhìn những thanh niên vào quân đội, sau thời gian không lâu, khi về thăm gia đình, bạn bè chững chạc hẳn lên, nên tôi quyết định như vậy.
Ngày ấy chưa có điện thoại, trong thư Nam viết về cho tôi, bên cạnh những câu chuyện, lời chúc sức khỏe là cảnh núi đồi nơi đóng quân: Cao Bằng, núi non trùng điệp, ngay ở Đông Khê, trên đường số 4, chỉ đi sâu vào không xa lắm là đã bắt gặp những cánh rừng bạt ngàn, mặc dù dấu vết những con đường lâm nghiệp khai thác gỗ từ thời Pháp thuộc vẫn còn, đất đai màu mỡ. Xen trong những khu rừng là những vạt chè xanh mướt của bà con người Tày, người Nùng. Rừng ở đây như có sự sắp đặt, có những dải chỉ có trúc, có dải toàn cây sau sau, có dải toàn ổi, quýt, vầu, giang và hoa dã quỳ mọc hoang dã nhưng đầy chất lãng mạn, màu vàng bung nở tươi rói ven đường, gợi liên tưởng đến miền đất Đà Lạt mà tôi và Nam chưa một lần được đến, chỉ biết qua phim ảnh. Và câu chuyện về những bản làng trong những lần được ra ngoài doanh trại, nhất là về những cô gái Tày. Theo Nam thì con gái ở Cao Bằng có thể đảm đang hơn cả người dưới xuôi, vì mọi công việc đồng áng họ đều rất thạo, họ có thể cày bừa, những công việc mà ở dưới đồng bằng thường chỉ dành cho cánh đàn ông. Cứ theo miêu tả của Nam, thì những cô gái Tày có lẽ đã hút hồn cậu ta, bởi thấy trong thư toàn tả da trắng, môi hồng tươi, mắt đen láy pha chút ngây thơ, e thẹn. Đã có lúc, Nam kể, những cô gái Tày thường ăn mặc gọn gàng, không diêm dúa, nhưng rất vừa người, đi chợ phiên đã đành, nhưng khi lên nương, làm đồng cũng vậy, trang phục ít khi thay đổi, ít phân biệt quần áo đi chơi chợ, hay lao động như các vùng, người dân tộc khác. Có lẽ do địa hình, tính chất công việc nhà nông vùng cao ít gấp gáp đã cho phép như vậy, còn da trắng là bởi thiên nhiên dâng phú, nắng không gắt, đêm về se lạnh ngay cả khi mùa hè.
Đóng quân trên vùng đất trữ tình, lại ở đơn vị tuyến 2, không thật giáp biên giới nên cậu ta có nhiều cảm hứng về cảnh vật, con người nơi đây. Chẳng thế mà chỉ sau một thời gian trong quân ngũ, nhất là sau những lần đóng quân trong nhà dân cùng đơn vị khai thác gỗ, vầu, nứa... về làm doanh trại, thực hiện nhiệm vụ của người lính biên cương, bạn tôi đã có thể phát huy năng khiếu ngoại ngữ, đối thoại được bằng tiếng Tày phổ thông. Tôi biết vậy, vì có lần Nam kể, tôi đã được cô Thùy, con chủ nhà xấp xỉ tuổi nhau khen khả năng nắm bắt, giao tiếp tiếng Tày, người đã thổ lộ quyết chí học tập không phải chỉ là để thoát nghèo, thoát ly khỏi địa phương, thoát cảnh lên nương, ra đồng, mà cái chính là có kiến thức, làm chủ cuộc sống. Thùy cũng là người hay căn vặn về lý do rời giảng đường đại học, vào quân đội của Nam, nhưng đó lại là chất xúc tác, khơi nguồn hứng khởi, chí hướng phục vụ quân đội lâu dài của cậu ta.
Họ giao ước với nhau về sự học hành.
Ngày ấy, trong thư gửi cho tôi, Nam viết rất lộn xộn, lúc bảo sắp bị kỷ luật vì lý do không minh bạch về quan hệ nam nữ khi đi đóng quân trong nhà dân, khi thì phấn khởi kể về được minh oan, được cấp trên đánh giá tốt, khen thưởng, khi thì tả cảnh thị xã Cao Bằng trong lần đi công tác, với dòng Bằng Giang uốn lượn, những chiếc cầu thơ mộng, hay di tích thâm nghiêm thành Nhà Mạc, khi thì viết như sách sử về chiến địa, chiến tích ở Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới 1950, và cả những chiếc xe tải được đóng ghế thành xe khách trên đường số 4. Rồi báo tin dự thi vào trường sĩ quan, phục vụ quân đội lâu dài.
Khi trở về trường sĩ quan học tập, thỉnh thoảng được thăm nhà, trong câu chuyện của Nam vẫn nói về những lần mạo hiểm vượt suối, những đêm luyện tập tình huống phục kích, mưa làm ướt sũng tăng võng, loay hoay tìm phương hướng, xác định tọa độ, những lần xuống bản tham gia các sinh hoạt cộng đồng, những phong tục của người Cao Bằng, kể cả hương vị của món thắng cố, xôi ngũ sắc, về những bác chủ nhà của dân bản gần đơn vị, với những gói quà tặng khi xa đơn vị, về nhập học; lời hẹn ước với Thùy về chuyện học hành. Và trong câu chuyện, bao giờ Nam cũng nói: "Tôi đi học sĩ quan là nhờ anh Minh đấy!".
Sau này, tôi còn được Nam kể nhiều về anh Minh của cậu ta, đó là một phó đại đội trưởng, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chính trị quân sự, quê tận Thái Bình, nhưng rất am hiểu đồng bào dân tộc, nói tiếng Tày, Nùng "như gió", có năng lực hiệp đồng lên kế hoạch huấn luyện, phương án chiến đấu, chỉ huy đơn vị, có khiếu kể chuyện, giảng bài chính trị mà chiến sĩ còn chăm chú nghe như đang trong giờ giảng văn, học sử. Chính anh đã nhìn nhận đúng tình cảm, thái độ của Nam với Thùy, đã động viên Nam đi học.
Qua Nam, tôi cũng biết rằng người sĩ quan chính trị, không chỉ thông thạo công tác chính trị, mà họ thực sự còn là người cán bộ sĩ quan, người chỉ huy đơn vị, chỉ có điều họ chuyên tâm hơn về công tác lãnh đạo, giáo dục, cảm hóa, thuyết phục, động viên cán bộ, chiến sĩ.
Là bạn thân, Nam còn cho tôi xem cuốn nhật ký được viết từ lúc còn là học viên; những suy tư, bình phẩm công việc của người cán bộ; đây đó còn có những vần thơ, châm ngôn cuộc sống, bức họa được vẽ trong lúc nghỉ ngơi. Và không ít câu chuyện, cảnh huống về cuộc sống học tập, rèn luyện, sinh hoạt của tập thể sinh viên quân đội; những ghi chép, tản mạn, cảm xúc về tình thầy trò; tình đồng chí, đồng đội. Trong đó có câu chuyện rất xúc động về Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Linh và cán bộ, học viên của Trường Sĩ quan Chính trị đã chiến đấu dũng cảm ở tuyến đầu biên giới Cao Bằng trong thời gian thực tập.
ở Bắc Ninh, khi học ở Trường Sĩ quan Chính trị, Nam đã gặp lại Thùy khi đó là sinh viên Cao đẳng Ngân hàng. Nam đã rất tự hào giới thiệu bạn Thùy xinh đẹp, giỏi giang với đồng đội ở tiểu đội.
Bây giờ, đã là sĩ quan, về lại Cao Bằng công tác, trong câu chuyện gia đình, Nam thỉnh thoảng vẫn nhắc tới anh Minh - cán bộ cao cấp của quân đội đã nghỉ hưu, nhắc đến cô Thùy -cán bộ ngân hàng có uy tín của tỉnh, vợ của Nam là cô giáo cũng chỉ nguýt dài./.
Nam là bạn tôi từ thời học phổ thông, thỉnh thoảng mới gặp nhau, nhưng mỗi lần gặp lại, chúng tôi lại có thêm một câu chuyện và nhiều lúc cũng không ra đầu, ra cuối, bởi mỗi người thường theo đuổi những cảm xúc khác nhau, chuyện không lớn, chẳng qua là nhiễm một chút nghề nghiệp, mà có lẽ thế nên mới chơi được với nhau.
Vùng đất mà cậu ta gắn bó hơn hai mươi năm nay, thân thuộc đến mức, Nam có thể tả cảnh một gốc cây, bờ suối, con đường, làng bản, phố phường với tình người, tình đất, thậm chí còn pha chút huyền hoặc.
Chuyện phong cảnh, Nam có lúc như thầy phong thủy, cũng hình sông, thế núi, cũng hướng đón gió, đón mưa, rồi long mạch. Nam có thể cuốn hút người nghe, thậm chí như tôi, là người gắn bó với thổ nhưỡng, kỹ thuật canh tác, canh nông của anh kỹ sư nông nghiệp cũng lấy làm thích thú trước những khám phá rất mới lạ. Có lần, Nam kể, có một cây cổ thụ trên Đèo Gió cứu cả cái xe tải như có phép lạ. Theo lời kể: Do đường hẹp, mưa phùn trơn trượt, lại thêm sương mù cản trở tầm nhìn, chiếc xe tải trượt bánh khỏi đường, có thể lật nghiêng (nghe thật thót tim), nhưng không, cả cái xe to, nặng là thế đã được phanh kịp, dựa vào cây cổ thụ to và... đứng im. Cái cây ấy được cánh lái xe đường dài coi như thần hộ mệnh, có người còn hương khói, nghe chừng linh thiêng lắm. Lâu rồi, chuyện ấy mờ dần, vì mọi người tin vào phước tốt của cung đường này. Rồi chuyện Đèo Giàng, Đèo Mây, cầu Tà Sìn cứ như ở chốn trời đất gặp nhau với bảng lảng mây mù, tia nắng xiên ngang, đường quanh co, uốn lượn; cảnh trí có thể làm thay đổi cảm giác con người, làm cho người ta tưởng là thâm thấp, vì gần gũi quá, nhưng nếu để ý, nhất là khi nắng to, nhìn xuống con đường nhỏ bé với những chiếc xe ô tô như con cua bò dốc thì không khỏi giật mình, cao thật! Và đúng là mây, gió. Đã có lần hứng lên Nam nói, mỗi khi trở về đơn vị công tác, mình đều thấy Cao Bằng, đúng là cao thật, nhưng lại bằng; nếu có dịp lên thăm Cao Bằng qua cánh đồng Hòa An, ông bạn sẽ thấy. Tôi thì chỉ nghĩ chắc anh sĩ quan có con mắt quan sát địa hình, hay tìm hiểu dân gian nên thấm thía thế thôi.
Nam đóng quân ở Cao Bằng đã hơn hai mươi năm nay.
Là bạn học, có những lúc tôi cũng tự hỏi, thời phổ thông, Nam không mạnh bạo lắm, thậm chí còn nhút nhát, thế mà lại là sĩ quan quân đội được nhỉ. Lý giải về sự nhút nhát, bạch diện thư sinh, Nam nói vì học trong lớp con gái đông hơn con trai, bao nhiêu chức sắc họ rinh cả, quyền chỉ huy, lực lượng họ chiếm ưu thế, nên bị "nữ hóa tạm thời" cũng là hợp lẽ, chứ có gì lớn đâu. Tôi thì nghĩ khác, chẳng qua là thiếu nam tính nên biện bạch. Chẳng thế mà, chuẩn bị hết phổ thông, thi đại học, là người học giỏi, sức khỏe tốt nhưng khi các bạn lôi kéo thử sức thi vào các trường quân sự thì cậu ta chối đây đẩy, rằng nó không hợp với mình, vất vả lắm.
Thế rồi, đang học Trường Đại học Nông nghiệp cùng tôi, tự nhiên Nam xin nhập ngũ, lý do được đưa ra lúc đó nghe rất lãng mạn, thực dụng, rằng tôi yêu thiên nhiên, thích đi đây đó, thích khám phá và thử một chút cảm giác xa nhà, nếu có điều kiện thì phục vụ lâu dài trong quân ngũ. Sau này, trong lần tâm sự, Nam có nói không phải thế, mà cái chính là muốn rèn luyện, giũ bỏ "nữ tính tạm thời" nhờ môi trường quân đội, sau tại ngũ, về học tiếp cũng chưa muộn, vì chỉ có vài, ba năm thôi. Cứ nhìn những thanh niên vào quân đội, sau thời gian không lâu, khi về thăm gia đình, bạn bè chững chạc hẳn lên, nên tôi quyết định như vậy.
Ngày ấy chưa có điện thoại, trong thư Nam viết về cho tôi, bên cạnh những câu chuyện, lời chúc sức khỏe là cảnh núi đồi nơi đóng quân: Cao Bằng, núi non trùng điệp, ngay ở Đông Khê, trên đường số 4, chỉ đi sâu vào không xa lắm là đã bắt gặp những cánh rừng bạt ngàn, mặc dù dấu vết những con đường lâm nghiệp khai thác gỗ từ thời Pháp thuộc vẫn còn, đất đai màu mỡ. Xen trong những khu rừng là những vạt chè xanh mướt của bà con người Tày, người Nùng. Rừng ở đây như có sự sắp đặt, có những dải chỉ có trúc, có dải toàn cây sau sau, có dải toàn ổi, quýt, vầu, giang và hoa dã quỳ mọc hoang dã nhưng đầy chất lãng mạn, màu vàng bung nở tươi rói ven đường, gợi liên tưởng đến miền đất Đà Lạt mà tôi và Nam chưa một lần được đến, chỉ biết qua phim ảnh. Và câu chuyện về những bản làng trong những lần được ra ngoài doanh trại, nhất là về những cô gái Tày. Theo Nam thì con gái ở Cao Bằng có thể đảm đang hơn cả người dưới xuôi, vì mọi công việc đồng áng họ đều rất thạo, họ có thể cày bừa, những công việc mà ở dưới đồng bằng thường chỉ dành cho cánh đàn ông. Cứ theo miêu tả của Nam, thì những cô gái Tày có lẽ đã hút hồn cậu ta, bởi thấy trong thư toàn tả da trắng, môi hồng tươi, mắt đen láy pha chút ngây thơ, e thẹn. Đã có lúc, Nam kể, những cô gái Tày thường ăn mặc gọn gàng, không diêm dúa, nhưng rất vừa người, đi chợ phiên đã đành, nhưng khi lên nương, làm đồng cũng vậy, trang phục ít khi thay đổi, ít phân biệt quần áo đi chơi chợ, hay lao động như các vùng, người dân tộc khác. Có lẽ do địa hình, tính chất công việc nhà nông vùng cao ít gấp gáp đã cho phép như vậy, còn da trắng là bởi thiên nhiên dâng phú, nắng không gắt, đêm về se lạnh ngay cả khi mùa hè.
Đóng quân trên vùng đất trữ tình, lại ở đơn vị tuyến 2, không thật giáp biên giới nên cậu ta có nhiều cảm hứng về cảnh vật, con người nơi đây. Chẳng thế mà chỉ sau một thời gian trong quân ngũ, nhất là sau những lần đóng quân trong nhà dân cùng đơn vị khai thác gỗ, vầu, nứa... về làm doanh trại, thực hiện nhiệm vụ của người lính biên cương, bạn tôi đã có thể phát huy năng khiếu ngoại ngữ, đối thoại được bằng tiếng Tày phổ thông. Tôi biết vậy, vì có lần Nam kể, tôi đã được cô Thùy, con chủ nhà xấp xỉ tuổi nhau khen khả năng nắm bắt, giao tiếp tiếng Tày, người đã thổ lộ quyết chí học tập không phải chỉ là để thoát nghèo, thoát ly khỏi địa phương, thoát cảnh lên nương, ra đồng, mà cái chính là có kiến thức, làm chủ cuộc sống. Thùy cũng là người hay căn vặn về lý do rời giảng đường đại học, vào quân đội của Nam, nhưng đó lại là chất xúc tác, khơi nguồn hứng khởi, chí hướng phục vụ quân đội lâu dài của cậu ta.
Họ giao ước với nhau về sự học hành.
Ngày ấy, trong thư gửi cho tôi, Nam viết rất lộn xộn, lúc bảo sắp bị kỷ luật vì lý do không minh bạch về quan hệ nam nữ khi đi đóng quân trong nhà dân, khi thì phấn khởi kể về được minh oan, được cấp trên đánh giá tốt, khen thưởng, khi thì tả cảnh thị xã Cao Bằng trong lần đi công tác, với dòng Bằng Giang uốn lượn, những chiếc cầu thơ mộng, hay di tích thâm nghiêm thành Nhà Mạc, khi thì viết như sách sử về chiến địa, chiến tích ở Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới 1950, và cả những chiếc xe tải được đóng ghế thành xe khách trên đường số 4. Rồi báo tin dự thi vào trường sĩ quan, phục vụ quân đội lâu dài.
Khi trở về trường sĩ quan học tập, thỉnh thoảng được thăm nhà, trong câu chuyện của Nam vẫn nói về những lần mạo hiểm vượt suối, những đêm luyện tập tình huống phục kích, mưa làm ướt sũng tăng võng, loay hoay tìm phương hướng, xác định tọa độ, những lần xuống bản tham gia các sinh hoạt cộng đồng, những phong tục của người Cao Bằng, kể cả hương vị của món thắng cố, xôi ngũ sắc, về những bác chủ nhà của dân bản gần đơn vị, với những gói quà tặng khi xa đơn vị, về nhập học; lời hẹn ước với Thùy về chuyện học hành. Và trong câu chuyện, bao giờ Nam cũng nói: "Tôi đi học sĩ quan là nhờ anh Minh đấy!".
Sau này, tôi còn được Nam kể nhiều về anh Minh của cậu ta, đó là một phó đại đội trưởng, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chính trị quân sự, quê tận Thái Bình, nhưng rất am hiểu đồng bào dân tộc, nói tiếng Tày, Nùng "như gió", có năng lực hiệp đồng lên kế hoạch huấn luyện, phương án chiến đấu, chỉ huy đơn vị, có khiếu kể chuyện, giảng bài chính trị mà chiến sĩ còn chăm chú nghe như đang trong giờ giảng văn, học sử. Chính anh đã nhìn nhận đúng tình cảm, thái độ của Nam với Thùy, đã động viên Nam đi học.
Qua Nam, tôi cũng biết rằng người sĩ quan chính trị, không chỉ thông thạo công tác chính trị, mà họ thực sự còn là người cán bộ sĩ quan, người chỉ huy đơn vị, chỉ có điều họ chuyên tâm hơn về công tác lãnh đạo, giáo dục, cảm hóa, thuyết phục, động viên cán bộ, chiến sĩ.
Là bạn thân, Nam còn cho tôi xem cuốn nhật ký được viết từ lúc còn là học viên; những suy tư, bình phẩm công việc của người cán bộ; đây đó còn có những vần thơ, châm ngôn cuộc sống, bức họa được vẽ trong lúc nghỉ ngơi. Và không ít câu chuyện, cảnh huống về cuộc sống học tập, rèn luyện, sinh hoạt của tập thể sinh viên quân đội; những ghi chép, tản mạn, cảm xúc về tình thầy trò; tình đồng chí, đồng đội. Trong đó có câu chuyện rất xúc động về Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Linh và cán bộ, học viên của Trường Sĩ quan Chính trị đã chiến đấu dũng cảm ở tuyến đầu biên giới Cao Bằng trong thời gian thực tập.
ở Bắc Ninh, khi học ở Trường Sĩ quan Chính trị, Nam đã gặp lại Thùy khi đó là sinh viên Cao đẳng Ngân hàng. Nam đã rất tự hào giới thiệu bạn Thùy xinh đẹp, giỏi giang với đồng đội ở tiểu đội.
Bây giờ, đã là sĩ quan, về lại Cao Bằng công tác, trong câu chuyện gia đình, Nam thỉnh thoảng vẫn nhắc tới anh Minh - cán bộ cao cấp của quân đội đã nghỉ hưu, nhắc đến cô Thùy -cán bộ ngân hàng có uy tín của tỉnh, vợ của Nam là cô giáo cũng chỉ nguýt dài./.